Dòng vốn FDI đang có sự chuyển dịch tại Việt Nam. Nguồn: internet Kém hấp dẫn và xu hướng chuyển dịch Từ chỗ chỉ chiếm gần 6% tổng FDI vào khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1990-2000, đến thời đoạn 2005-2010, Việt Nam đã chiếm trên 10,29% tổng FDI, đạt cao nhất tới 17% trong năm 2008. Có nhiều căn do dẫn đến sự sụt giảm mạnh này, trong đó chẳng thể không kể đến ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Mặt khác, mặc dầu đã có những cải thiện nhất quyết, song môi trường đầu tư của Việt Nam chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư có tiềm năng lớn. Bên cạnh đó, chính sách, pháp luật về FDI còn chậm được cải thiện, làm giảm sức cạnh tranh của môi trường đầu tư so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Myanmar... Cuộc cạnh tranh lôi cuốn đầu tư càng gay gắt hơn khi Việt Nam bị rớt xuống nửa dưới của bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh. Theo vắng Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012-2013 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiến hành khảo sát với 144 nền kinh tế, Việt Nam xếp vị trí 75, tụt 10 bậc so với năm 2012 (vị trí 65). Trong khi đó, các nước trong khu vực có khuynh hướng duy trì và cải thiện thứ hạng. Singapore bảo vệ thành công vị trí á quân. Malaysia dù bị tụt 4 bậc xuống vị trí thứ 25, nhưng vẫn duy trì điểm số. Thái Lan sau 6 năm liên tiếp tụt hạng, đã tạm dừng thiên hướng thụ động ở vị trí 38. Dòng vốn FDI đang có sự chuyển dịch tại Việt Nam, miêu tả qua việc một số nhà máy của các doanh nghiệp FDI đóng cửa hoặc chuyển di sang các nước khác trong khu vực. Có thể thấy rõ điều này qua việc đóng cửa nhà máy của các hãng Sony, Daihatsu hay việc dời nhà máy của Toshiba (Nhật Bản) từ Việt Nam sang Indonesia và chọn nơi đây là trọng tâm phát triển sản phẩm tivi LCD của hãng tại thị trường châu Á và châu Úc… Những nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiều nhà đầu tư chọn Việt Nam vì những ưu đãi. Do đó, khi ưu đãi bị giảm bớt hoặc kết thúc, trong lúc những lợi thế khác của Việt Nam yếu hơn trong tương quan so sánh, họ chuyển dịch đầu tư sang nhà nước khác, đó là quy luật chung của các dòng vốn đầu tư trên thế giới. Đích lôi cuốn công nghệ cao và các tập đoàn đa quốc gia Thực tại đầu tư từ các nhà nước phát triển vào Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, nếu so với đầu tư của các nước này vào Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Singapore… Cụ thể, sau 25 năm, có 98 quốc gia và vùng cương vực đã có đầu tư vào Việt Nam. Đứng đầu trong số này là Nhật Bản với 1.872 dự án, tổng vốn đầu tư hơn 29 tỷ USD. Cuối bảng là Iran, với chỉ một dự án độc nhất và vốn đăng ký vỏn vẹn 10.000 USD. Đứng cuối Top 10 là Thái Lan, với 6 tỷ USD, cuối Top 20 là Luxembourg, với gần 1,5 tỷ USD. Các nền kinh tế lớn như Đức, Nga, Ấn Độ… đều nằm ngoài Top 20. Đặc biệt, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh tại Hội nghị “25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, cho đến nay, mới có hơn 100 tập đoàn đa nhà nước (TNCs) trong số khoảng 500 tập đoàn hàng đầu thế giới có dự án đầu tư ở Việt Nam. Con số này ở Trung Quốc là 400. Chính cho nên, đích của Việt Nam trong thời gian tới sẽ là tạo môi trường tiện lợi để thu hút đầu tư từ các TNCs hàng đầu thế giới. Đơn giản là bởi, dòng vốn đầu tư của các TNCs thường gắn với công nghệ cao và góp phần quan yếu làm đổi thay cơ cấu kinh tế của các nước kết nạp đầu tư. Như vậy, thông điệp đã quá rõ ràng. Đó là, Việt Nam cần các dự án công nghệ cao và muốn có các TNCs. Nhưng, đặt câu hỏi trái lại, ích của nhà đầu tư đến đâu trong câu chuyện này? Việt Nam muốn tối ưu hóa ích của FDI thì cũng chẳng thể quên lợi ích của các nhà đầu tư. Và, điều mà họ muốn là một môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, quyến rũ. Trong khi đó, xem ra tại Việt Nam, vẫn còn nhiều điều tù mù, thiếu rõ ràng. Cần giải quyết các vướng mắc từ khái niệm Thực tại ĐTNN vào Việt Nam có rất nhiều hình thức, bao gồm: FDI, đầu tư gián tiếp (FII), ngoại hối. Tuy nhiên, nhìn chung khái niệm ĐTNN lại chưa được làm rõ và đầy đủ. Đã vậy, tại nhiều thời điểm, trong nhiều văn bản luật, khái niệm ĐTNN gần như bị đồng nhất với FDI. Cụ thể là: - Năm 1977, Điều lệ ĐTNN ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP, ngày 18/4/1977 của Chính phủ không nói rõ khái niệm FDI, mà chỉ quy định ĐTNN ở Việt Nam là ‘‘việc đưa vào dùng ở Việt Nam những tài sản và vốn, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, mở mang các cơ sở hiện có”. - Trong Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987, cũng chỉ có khái niệm ĐTNN được quy định trong khoản 3 - Điều 2. Theo đó,“ĐTNN là việc các tổ chức, cá nhân chủ nghĩa nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam ưng để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”. - Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996 và trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ĐTNN năm 2000 (Điều 2, khoản 1) có đưa ra khái niệm về FDI. Cụ thể: “FDI là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. - Tại Luật Đầu tư năm 2005, khái niệm FDI được làm rõ hơn. Theo đó, “Đầu tư trực tiếplà hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và dự quản lý hoạt động đầu tư”, còn “Nhà ĐTNNlà tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Như vậy, có thể hiểu: FDI là hình thức của nhà ĐTNN bỏ vốn vào đầu tư và tham dự quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Xoay quanh cách hiểu mực ‘‘FDI” gắn với nội dung của Luật ĐTNN và sau này là Luật Đầu tư năm 2005 có thể rút ra những điểm đáng chú ý sau: -Chưa minh định được khái niệm FDI. Giờ, giới học thuật Việt Nam cũng đã đưa ra rất nhiều ý kiến về FDI. Theo Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008): “FDI là hình thức trong đó người chủ đầu tư có quyền kiểm soát đối với hoạt động sinh sản,kinh dinh cũng như ích của mình ở một hãng nước ngoài. FDI do vậy bao gồm cả quyền sở hữu và quyền kiểm soát kinh dinh ở nước ngoài”. Khái niệm này đã nêu được thực chất của FDI và cũng nhấn mạnh đến “quyền kiểm soát” và “quyền sở hữu” của đồng vốn, mà nhà đầu tư bỏ ra nhằm đích thu ích lợi từ các khoản đầu tư. Còn theo tác giả Nguyễn Thị Hường và cộng sự đưa ra trong Giáo trình quản trị doanh nghiệp FDI (2011),“FDI là một trong 2 loại đầu tư quốc tế cơ bản… có quan hệ và chuyển hóa lẫn nhau. FDI (Gọi là dự án FDI) là việc nhà đầu tư nước này đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào sang các nước khác để tiến hành các hoạt động đầu tư và nắm quyền sở hữu cơ sở kinh dinh đó”. Trong khi đó, cách giảng giải thuật ngữ “FDI” của Luật ĐTNN năm 1996 và 2000, cũng như Luật Đầu tư năm 2005 chưa cho thấy bản tính của dòng vốn, với sự vận động vào - ra, cũng như nhấn mạnh “quyền kiểm soát” và “quyền sở hữu” của nhà đầu tư. Bởi, việc đưa vốn và tài sản vào Việt Nam, về bản chất, cũng là một phần công việc trong cả hoạt động đầu tư nói chung và nó cấu thành hoạt động đầu tư FDI. Bên cạnh việc đưa tiền và tài sản từ nước ngoài vào trong nước còn có cả việc chuyển ra nước ngoài các khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, tiền gốc và lãi của các khoản vay nước ngoài trong quá trình hoạt động, vốn đầu tư, các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp. Bởi thế, cách giải thích ngữ “FDI” như trong Luật gần như đồng nhất với việc phản chiếu dòng tiền và tài sản từ nước ngoài vào trong nước chẳng những không làm rõ hơn nghĩa mức này, mà còn làm biến dạng nghĩa của nó. Cách giải thích này còn làm thu hẹp nội dung hoạt động FDI. Nếu theo cách diễn giải trước đó và hiện hành, nên dùng cụm từ “ĐTNN trực tiếp - Direct Foreign Investment (DFI)” tại Việt Nam thay thế mực FDI, thì xác thực hơn. Hơn nữa, cách giảng giải như trong các luật này chưa phản ảnh đúng nội dung của hoạt động FDI tại Việt Nam. Theo quy định, hoạt động FDI tại Việt Nam gần như được mặc định là công việc của nhà ĐTNN. Trong khi trên thực tiễn, các nhà đầu tư Việt Nam cùng góp vốn, tham gia quản lý, phân chia lợi nhuận và san sẻ rủi ro với nhà đầu tư nước ngoài tùy theo từng dự án. Điều này cho thấy, vị thế chủ động của nhà ĐTNN, còn bên Việt Nam lại ở vị trí yếu thế, kể cả trường hợp bên Việt Nam cộng tác đồng đẳng, hoặc nắm nhiều cổ phần hơn so với bên nước ngoài, thì vẫn gọi là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài! Để giải quyết các vướng mắc trên, trong thời kì tới, các nhà làm luật Việt Nam phải đưa ra một khái niệm FDI đảm bảo tính rõ ràng và thống nhất của đạo luật, góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về ĐTNN ở Việt Nam hiệp với thông lệ quốc tế về đầu tư, nhằm thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập quốc tế Hiện nay của Việt Nam. -Sự phân định giữa FDI và FII hiện chưa rõ ràng.Luật Đầu tư năm 2005 quy định, FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Và, FII là hình thức đầu tư ưng chuẩn việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái khoán, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động. Tại thời khắc đưa vốn vào công ty, thì hai hình thức đầu tư này có thể khác nhau, nhưng sau đó có thể không còn phân biệt được. Bởi, đầu tư gián tiếp có thể chuyển hóa thành đầu tư trực tiếp khi tỷ lệ cổ phần đủ lớn, nhà đầu tư tham dự vào điều hành công ty. Do đó, thời kì tới, sẽ ban hành văn bản để phân biệt rõ hơn hai khái niệm này, trên cơ sở đó bổ sung, làm rõ và hợp nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật để tạo khung pháp lý hoàn thiện hơn` cho nhà ĐTNN khi thực hiện đầu tư vào thị trường Việt Nam. -Chưa hợp nhất khái niệm doanh nghiệp ĐTNN. Trong“Tọa đàm khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN và thủ tục đầu tư kinh dinh”(30/8/2012), Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) dấn, đang có sự không thống nhất trong việc áp dụng thủ tục, điều kiện đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN có sở hữu của nhà ĐTNN dưới 49%. Hệ lụy kéo theo là sự không thống nhất trong việc thống kê, theo dõi, giám sát doanh nghiệp này. Trong kế hoạch hoàn thiện luật pháp về đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, định nghĩa doanh nghiệp có vốn ĐTNN đang được cân nhắc theo hai phương án:Một là, doanh nghiệp có sở hữu của nhà ĐTNN từ 51% trở lên (dựa trên Hiệp định chung về dịch vụ - GATS);Hai là, doanh nghiệp có sở hữu của nhà ĐTNN từ 10% trở lên, trên cơ sở quy định của OECD. Tuy nhiên, nghe đâu cốt lõi của những lúng túng ngày nay không hẳn là tỷ lệ bao lăm, mà theo ý kiến của ông Ronald Parks, Giám đốc Thuế và Các dịch vụ doanh nghiệp (Công ty Kiểm toán KPMG), thì xác định các tỷ lệ này cần giải đáp được hai câu hỏi: (i) Nhằm mục tiêu gì? (ii) Để kiểm soát các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hay để khuyến khích họ? “Khi đến Việt Nam, các nhà ĐTNN quan hoài đến các cơ hội đầu tư, điều kiện để biến thời cơ đó thành tiền, chuyển tiền về nước thế nào, chứ thực thụ không quan tâm đến các tỷ lệ sở hữu một cách chi tiết”, ông Ronald Parks nhấn mạnh. Vì vậy, điều Việt Nam cần làm là tập kết sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện đầu tư và lĩnh vực đầu tư có điều kiện ăn nhập với chủ trương lôi cuốn ĐTNN trong tuổi mới. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế chính sách về quản lý FDI “sạch” để hướng tới sự phát triển bền vững./. Tài liệu tham khảo: 1. Quốc hội (1987). Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật số 4-HĐNN8, ngày 29/12/1987 2. Quốc hội (1996). Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật số 01/1996/QHIX, ngày 12/11/1996 3. Quốc hội (2000). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật số 8/2000/QHX, ngày 09/6/2000 4. Quốc hội (2005). Luật Đầu tư, Nxb Chính trị nhà nước, Hà Nội 5. Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định số 1601/QĐ-TTg, ngày 29/10/2012 duyệt Đề án nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 6. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008). Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội 7. Nguyễn Thị Hường, chủ biên (2011). Giáo trình quản trị doanh nghiệp FDI, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 8. Phan Vũ Hoàng (2012). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nên chốt theo tỷ lệ sở hữu nào? Đầu tư chứng khoán, truy cập từ http://tinnhanhchungkhoan.Vn/GL/N/CIDAAJ/dn-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-nen-chot-theo-ty-le-so-huu-nao.Html Theo kinhtevadubao.Com.Vn |
Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013
Thu truyền hình hút FDI: Từ thực tế đến những vướng mắc… khái niệm
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét