Các nhà phê bình trẻ khác với thế hệ đi trước đang cùng tham gia vào đời sống văn học trước nhất ở thực tế sơn hà trong tuổi trưởng thành tính cách: họ không bị/được trải nghiệm chiến tranh, kinh nghiệm kí vãng như một gia tài luôn bị cật vấn bởi sự bác tạp ngày càng nhiều hơn của các thông tin ngoài cơ bản học đường, giao lưu văn hóa quốc tế rộng mở và nhất là internet dù chưa khiến họ trở nên “công dân thế giới” nhưng đã đưa họ tham dự vào không gian khu vực và quốc tế. Sự dị biệt trong kinh nghiệm đời sống và thẩm mỹ, theo đó, làm thành sự dị biệt trong tinh thần của họ về văn chương và cuộc đời. Đối mặt với thực tế phân hóa, họ kiến tạo bản sắc của mình, và chính bản sắc được kiến tạo này sau đó quay lại đòi giải mã thực tại phân hóa làm sản sinh ra nó. Văn học trở nên câu chuyện cho các tái khám phá của họ. Phê bình theo đó, không là mặt trận, không định hướng, không phán xét, mà là hành vi đồng sáng tạo. Cũng theo đó, phê bình không là một công cụ, một thiên chức, một nghề nghiệp, mà là một phương thức dự vào cuộc đời. Như là sản phẩm của một hoàn cảnh văn hóa mới, nên không phải ngẫu nhiên mà nghiên cứu văn học từ văn hóa đã trở thành một lựa chọn của họ, tác động trực tiếp đến các thực hiện phê bình, làm thành biểu đạt khác biệt rõ rệt nhất trong tương quan với phê bình của các thế hệ trước.
Những đổi thay trong thực hiện phê bình biểu thị một ý hướng, quan niệm, thao tác khác hẳn trước, nảy sinh từ sự phản tư truyền thống phê bình của phê bình trẻ. Dù chính ở chỗ này, và gần như là điều duy nhất, phê bình trẻ tập truyền thế hệ đi trước, dẫu là một học tập để vượt qua. Phổ biến lý luận phương Tây và áp dụng trong phê bình, thành tựu lớn nhất của phê bình thời đổi mới, trở nên một bước đi cấp thiết nhưng mau chóng trở thành xơ cứng bởi tính chất minh chứng cho mô hình hoặc cắt xén thực tế cho phù hợp với mô hình được ứng dụng ấy. Tính chất xơ cứng của mô hình “lý luận và vận dụng” khuyến dụng những phê bình trường hợp mang tính tiêu biểu hóa đã triệt tiêu những phê bình trường hợp mang tính đại diện, nơi ghi nhận dấu ấn xứng hoặc khả năng phê phán mô hình bởi tính địa phương dị biệt của đối tượng nghiên cứu như một bổ khuyết cho lý thuyết, tạo nên tính năng sản của nó. Chính từ đây, sự tiếp biến các lý thuyết phê bình văn học mới và việc chọn lựa các đối tượng nghiên cứu mới làm thành sự khác biệt của phê bình trẻ, nguyên do của các bất đồng tiếng nói phê bình khi một bộ phận của đời phê bình đi trước mang ý kiến gia trưởng để phán xét nó.
| Sự tiếp biến các lý thuyết phê bình văn chương mới và việc tuyển lựa các đối tượng nghiên cứu mới làm thành sự dị biệt của phê bình trẻ, căn nguyên của các bất đồng tiếng nói phê bình khi một bộ phận của đời phê bình đi trước mang ý kiến gia trưởng để phán xét nó. | Những phản ứng gần đây của một số nhà phê bình về việc du nhập các lý thuyết mới, như những lý thuyết phi marxist, những lý thuyết đương đại phản tư nhất thể hóa và hợp thức hóa quyền lực và kiến thức, những lý thuyết khẳng định vị thế và sự can thiệp của trí thức đối với từng lớp và quốc gia - dân tộc,… đặt ra một số vấn đề ý hệ đáng chú ý. Tại sao đẵn những ngôn ngữ lên án lại lên đường từ thế hệ phê bình không trẻ? Tại sao một số vấn đề mang tính toàn cầu lại được cho là không xuất hiện ở Việt Nam? Tại sao lại từ khước một số lý thuyết như là một thành tựu của tư duy loài người, giúp loài người hiểu sâu sắc hơn thực tại và chính bản thân?... Có một thực tại là, có một bộ phận không nhỏ các nhà phê bình đã không tư duy cùng với sự phát triển. Quan điểm gia trưởng khiến họ áp đặt cái nhìn của bản thân cho các thực hiện phê bình khác, từ khuyên lơn, đến từ khước, thậm chí phủ nhận, lên án và quy chụp. Vẫn biết, thiết chế luôn tuyển lựa kiến thức hợp lệ cho nó, nhưng không do vậy mà được áp đặt và/hoặc triệt tiêu các kiến thức khác.
Như một hệ quả của việc thực hành phê bình từ các điểm nhìn mới, đối tượng của phê bình cũng trở thành đa dạng hơn. Ở đây phê bình trẻ nối mắc vào vấn nạn của các lên án về chọn lựa đối tượng. Tại sao lại có việc khoanh vùng đối tượng? Tại sao đối tượng này xứng đáng phê bình hơn đối tượng kia? Ngay ở nhận thức này, phê bình cũng mang tính gia trưởng, ở sự áp đặt và sự tự cao tự đại của nó. Phê bình luôn là cuộc dò xét cái lý của sự tồn tại chứ không phải chỉ ra cái tồn tại hợp lý. Bởi nó chẳng thể xác quyết câu trả lời hợp lý với ai, ai có quyền quyết định tồn tại ấy là hợp lý, cho ai và vì ai?
Một nền phê bình lành mạnh là một nền phê bình thúc đẩy sự phát triển của tư duy văn chương. Muốn xúc tiến được tư duy, ngoài việc theo đuổi sự vận động của mỹ học, nhà phê bình ở mỗi đời đều phải cầm tạo lập một ngôn ngữ chung, bởi tiếng nói nào thì tư duy ấy, tư duy nào thì soi chiếu ý hệ ấy. Bất đồng ngôn ngữ thì không thể hội thoại, biết tiếng nói khác mà cố ý lờ đi thì đối thoại bất thành, hoặc chỉ có áp đặt mà không có đối thoại. Một nền phê bình không có hội thoại là một nền phê bình thủ cựu. Một nền phê bình không ưng ý những tiếng nói khác, những suy tư và thực hiện phê bình khác là một nền phê bình độc đoán. Bít tất cho thấy ý kiến gia trưởng trong phê bình, ở cả góc độ tư duy lẫn đời sống, báo hiệu cho nhiều sự xói mòn khác nữa, của công lý, luân lý và đạo đức. Một tổ quốc có thể không cần trau dồi văn học, như nền cộng hòa lý tưởng của Plato, nhưng chẳng thể không cần xiển dương công lý, luân lý và đạo đức. Không tưởng thưởng công lý, luân lý và đạo đức, phê bình văn chương sẽ hủy hoại vị thế và tương lai của nó.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét