Việt Nam với công cuộc kiến tạo lòng tin Trong quá trình kiến tạo lòng tin với các đối tác, thế và lực của mỗi nhà nước có vai trò quyết định, bởi đó là nền tảng để xây dựng chính sách cũng như cách thức thực hiện
V. Tiêu biểu nhất là cách ứng xử của Việt Nam trong vấn đề tranh chấp tại Biển Đông. Mới đây nhất, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã lấy chủ đề "Xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hiệp tác, thịnh vượng của châu Á" làm chủ đạo cho bài diễn văn đề dẫn có tính định hướng cho Diễn đàn hội thoại Shangri - La 2013.
V. Trong ảnh: Tổng bí thơ Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ Tổng thống I-ta-li-a G. Thậm chí, những lề luật mới cũng không hoàn toàn đảm bảo được sự đồng đẳng, đặc biệt thiệt thòi cho các nước nhỏ. Thế giới đã có rất nhiều biến chuyển trong hơn 20 năm qua, nhưng hệ thống pháp luật quốc tế thay đổi rất hạn chế. # Rõ nét trong cách giải quyết các công việc quốc tế.
Quốc gia làm tiêu chí chủ đạo trong quá trình hoạch định chính sách lại càng khiến cho những mâu thuẫn này thêm đa dạng, phức tạp và sâu sắc.
Cuộc cạnh tranh giữa các nền kinh tế hàng đầu thế giới cũng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Cho đến những vấn đề có tính hẹp hơn như buôn bán biên mậu, trốn thuế, v.
# Nhau, dù ở mức độ một mực nào đó. Một mặt vẫn cương quyết giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, mặt khác Việt Nam luôn tranh thủ mọi thời cơ để có thể giải quyết mọi tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC), song song, thay cùng các bên sớm đi đến ký kết Bộ lệ luật xử sự (COC).
Thứ ba,về giải pháp. Nhìn chung, trong thời gian qua, mọi chính sách và hành động của Việt Nam đều hướng tới việc tạo dựng lòng tin đối với các đối tác cũng như tham dự kiến tạo lòng tin trong cộng đồng quốc tế. Nhưng mỗi quốc gia cũng phải song song nhận thức được vai trò chủ động hướng tới tạo dựng niềm tin duyệt những chính sách và hành động.
Na-pô-li-ta-nô. Thứ hai, hiệu quả chưa cao của sự cộng tác giữa các nước từ việc giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, v. Uy tín của Việt Nam được trình bày qua các mối quan hệ ngoại giao với hơn 180 nhà nước.
V. Việt Nam hiện là thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế lớn, đầu tiên là các tổ chức tài chính, tiền tệ. Thành tựu mà Việt Nam đạt được sau gần 30 năm tiến hành công cuộc Đổi mới đã và sẽ đem đến cho giang sơn những điều kiện cần để có thể nâng tầm vị thế và kiến tạo lòng tin với cộng đồng quốc tế. TS ĐỖ SƠN HẢI. Điều này hoàn toàn không phải do những áp lực to lớn từ hậu quả khủng hoảng kinh tế 2008.
Năm 2010, sau 10 năm thực hiện MDGs, Việt Nam được LHQ đánh giá là một trong số rất ít nước đã hoàn tất cơ bản trước hạn vận các đích thiên niên kỷ. Quá trình cộng tác càng gia tăng thì mâu thuẫn càng bộc phát, điển hình là giữa hai nhóm nước phát triển và đang phát triển.
Trong dự án thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) năm 1993, các nước thành viên của Hiệp hội đã vạch ra lộ trình mà phát xuất điểm chính là phải hình thành các biện pháp xây dựng lòng tin (CBMs). Trước tiên, vị thế của giang san trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt nhờ vào những thành công trong lĩnh vực kinh tế.
Tất nhiên, như trên đã nhấn mạnh, những chính sách và hành động của chúng ta mới chỉ là điều kiện cần. Trước tình hình đầy biến động của khu vực và thế giới, có một số việc cụ thể mà chúng ta cần hướng tới.
Chỉ đơn cử như trong cuộc chiến chống đói nghèo, hiện vẫn còn tới hơn 2,5 tỷ người nghèo đói trên tổng số hơn bảy tỷ người trên hành tinh, cho dù vấn đề này luôn chiếm ưu tiên hàng đầu trong các chương trình nghị sự của các tổ chức quốc tế, điển hình là Liên hợp quốc (một trong tám đích thiên niên kỷ (MDGs) của LHQ) cũng như của mỗi quốc gia.
Điều này giải thích tại sao các nhà đầu tư coi Việt Nam là "ngôi sao đang lên". Nói cách khác, lời nói và hành động của mỗi quốc gia là minh chứng sống động nhất cho các đối tác tin tức vào mình. Thứ nhất, đó là các xung đột, tranh chấp khu vực hiện giờ với tần suất và mức độ bít tất tay càng ngày càng gia tăng. Chỉ tính riêng khu vực châu Á -thái hoà Dương, bên cạnh các mối quan hệ song phương phát triển mạnh mẽ, đã hình thành một loạt các cơ chế hiệp tác đa phương như APEC, ARF, ASEM, Francophonie, ASEAN mở rộng cùng các cơ chế hội thoại ASEAN + 1, ASEAN + 3, v.
Rằng, đây là công việc của thảy các quốc gia, đơn lẻ một chiều khó có thể xây dựng được lòng tin. Hoặc việc một số nước lấy lý do là các nước đang phát triển để không bằng lòng tỷ lệ cắt giảm khí thải theo đề nghị của các nước G7.
Thứ nhất, minh bạch chính sách để các đối tác hiểu Việt Nam hơn như công bố ngay, định kỳ sách xanh của Bộ Ngoại giao và sách trắng của Bộ Quốc phòng; Thứ hai, đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế theo phương châm "chủ động, tích cực" để các đối tác nắm được năng lực cũng như lợi. Sự tăng trưởng liên tục đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến an toàn và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Những chuyển động mới Trong hơn 20 năm qua, kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, hợp tác, liên kết cùng phát triển trở thành một trong những xu thế trổi nhất trong quan hệ quốc tế. Thứ ba, vấn đề xây dựng lòng tin liên tiếp được nêu ra ở mọi cấp độ, từ quan hệ song phương đến quan hệ đa phương.
Để quá trình xây dựng lòng tin có hiệu quả hơn, trong thời gian tới, Việt Nam vẫn cần có những gắng hơn nữa.
Còn những duyên cớ dẫn tới sự thiếu hụt này? trước tiên là bản tính đời sống quốc tế. Ngày nay, thật khó tìm ra khu vực nào trên hành tinh này không tồn tại chí ít một điểm nóng.
Dĩ nhiên, để có được những kết quả như vậy, giữa các quốc gia phải tin tưởng. Trong kỷ nguyên hạt nhân, tại những cuộc gặp cấp cao, các nhà lãnh đạo các nước lớn sở hữu khí giới hạt nhân lại càng luôn nhấn mạnh tới điều này. Từ lâu, việc kiến lập lòng tin giữa các nhà nước vẫn luôn là một trong những vấn đề quan yếu hàng đầu trong đời sống quốc tế.
Sau Chiến tranh lạnh, việc các nước đều có xu hướng lấy lợi. Như vậy, để có thể khắc phục được những duyên do trên, rõ ràng các nhà nước phải có được một số những nhận thức chính trị cốt tử. Tính đến cuối năm 2012, đã có khoảng 10 nghìn dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam từ hơn 80 quốc gia và vùng cương vực, với số vốn đăng ký hơn 100 tỷ USD.
Đơn cử như việc nhiều nước tăng uổng quốc phòng hiện giờ lẽ tất nhiên khiến cho không ít nhà nước nghi ngại và hệ quả là tất cả đều rơi vào vòng xoáy tăng xài. Thứ hai, thuộc về hiện tượng. Đóng góp của Việt Nam trong việc kiến tạo lòng tin với cộng đồng quốc tế còn biểu thị ở chính sách cũng như hành động thực tế. Việc duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7,5%, thậm chí ngay cả trong thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu Việt Nam vẫn đạt hơn 5%, đã giúp bình quân GDP trên đầu người tăng hơn 10 lần và tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống dưới 15%.
Trong nhiệm kỳ 2008 - 2009, với nhân cách ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an (LHQ), Việt Nam đã dự tư vấn trực tiếp nhiều vấn đề an ninh nóng của thế giới trên lập trường kiên định là đảm bảo sự công bằng ích lợi cho các bên, tránh tây vị hay áp đặt. Cùng đó, mỗi quốc gia cần chũm kềm chế những ý định bạo lực.
Chính sách yêu chuộng hòa bình, chủ trương giải quyết các dị đồng, tranh chấp ưng chuẩn con đường đàm phán, thương thuyết được Chính phủ Việt Nam trình diễn. Ảnh: TRÍ DŨNG (TTXVN) Với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin tưởng của tất thảy các nhà nước và là thành viên có bổn phận trong cộng đồng quốc tế", Việt Nam đã có những việc làm cấp thiết và tích cực để có thể đóng góp vào quá trình xây dựng lòng tin chiến lược.
Các chính sách cũng như hành động của mỗi nhà nước không phải lúc nào cũng tạo ra sự tin tưởng cho các đối tác, dù đã tìm mọi cách giải thích.
Trong suốt chiều dài hình thành và phát triển Nhà nước, giữa các nhà nước luôn tồn tại những mâu thuẫn về ích. V. Quan yếu hơn, Việt Nam đã trực tiếp tổ chức thành công nhiều hội nghị lớn trong nhiều lĩnh vực như trong khuôn khổ ASEAN, APEC, v. Của Việt Nam; Thứ ba, trong quá trình dự vào các công việc quốc tế, mọi hành động của Việt Nam đều cần phải làm cho các nước khác hiểu được tư tưởng chủ đạo của chúng ta là hướng tới việc tạo lập lòng tin, kiến lập một cộng đồng quốc tế công bằng và thịnh vượng.
Nhưng cũng khó có thể phủ nhận một nghịch lý, các mối kết liên này càng phát triển thì lòng tin lại có vẻ càng sút giảm. Những hoạt động đối ngoại hiệu quả của lãnh đạo Đảng và quốc gia ta góp phần quan yếu nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Thí dụ tiêu biểu là những lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an đối với CHDCND Triều Tiên (NQ 1718, 1874 và 2087) không những không giải quyết được vấn đề hạt nhân trên bán đảo này mà còn dẫn đến khủng hoảng "bên miệng hố chiến tranh" tại đây trong mấy tháng đầu năm 2013.
Na ná, hệ thống luật pháp quốc tế cần có sự luận bàn rộng rãi nhằm tạo chừng độ công bằng cao nhất có thể, tránh sự áp đặt hay thiên tư. Có ít nhất ba lý do để lý giải điều này. Đòi hỏi khách quan Mấy năm gần đây, các nhà nước liền tù tù đề cập tới sự cấp thiết phải tạo lập lòng tin như là một trong những điều kiện tiên quyết để có được hiệu quả trong quá trình hiệp tác quốc tế.
Đó đồng thời là sự khẳng định và không ngừng nâng cao vị thế của sơn hà ta trên trường quốc tế. Lòng tin và đặc biệt là lòng tin chiến lược phải được tuốt tuột các nước quan tâm và cùng nhau san sớt, đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: "Để xây dựng lòng tin chiến lược, cần tuân thủ pháp luật quốc tế, đề cao bổn phận của các nhà nước - nhất là các nước lớn và nâng cao hiệu quả thực thi của các cơ chế hiệp tác đa phương".
Nhu cầu phát triển hay những khó khăn về kinh tế chỉ làm tăng tính bức thiết của vấn đề mà thôi. Đơn giản bởi bạo lực tất sẽ dẫn đến những hành động tự vệ, đáp trả rưa rứa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét