Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Tìm sự đồng thuận: mẹo hay đưa tiền là xong?.

Từ một góc nhìn khác về hình thức hiệp tác xã nông nghiệp

Tìm sự đồng thuận: đưa tiền là xong?

Hai cơ chế này được coi như những chuẩn mực tiến bộ của quá trình chuyển dịch đất đai để thực hành công nghiệp hóa, thị thành hóa vì đó là các cơ chế đặt người mất đất tại địa phương vào quá trình phát triển, không bắt phải đứng ngoài cuộc.

Viết như vậy cũng chỉ là lý thuyết vì rất khó tìm đất cùng loại để đền bù, thực tế là chỉ là bồi thường bằng tiền một lần. Đại biểu Quốc hội cũng đã phát biểu nhiều về vấn đề sự tham gia quan điểm của người dân trong nhiều quá trình quản lý. Bác Hồ rất hay nhắc đến câu thơ "Dễ trăm lần không dân cũng chịu / Khó vạn lần dân liệu cũng xong" như một nguyên lý tiếp cận công việc của người cán bộ.

Thứ ba,  ai có bổn phận bồi thường là việc cần coi xét lại. Các tài liệu về 2 cơ chế này đã được giới thiệu cụ thể ở Việt Nam ưng chuẩn các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và đề tài khoa học của Viện Kiến trúc, Bộ Xây dựng. Cái cần của người dân khi tham gia phải là các cơ chế rất cụ thể và chính quyền phải thực thụ cần tới sự tham dự của người dân.

Vững chắc thảy chúng ta đều biết như vậy nhưng sự đồng thuận này vẫn thiếu hụt trên thực tại. Cách thức này dẫn đến văn cảnh người mất đất nhận tiền rồi thì đứng ra ngoài cuộc đầu tư phát triển, trong khi ai cũng biết rằng có đất thì mới có dự án đầu tư.

Một là cơ chế "san sẻ lợi ích" lâu dài từ dự án đầu tư với các lợi. Sự tham dự của người dân không nên hiểu là sự tham dự cá thể từng người mà cần hiểu về sức mạnh cộng đồng với quan điểm phần lớn.

Thứ tư,  việc đền bù, hỗ trợ chỉ theo phương thức bằng tiền một lần là không đủ tính hợp lý so với cuộc sống đòi hỏi. Cơ chế hiện hành còn đưa ra tương trợ giá đất đối với đất nông nghiệp trên cùng thửa đất ở hoặc đất nông nghiệp gắn với khu dân cư. Vai trò của người dân cần cho cả quá trình quản lý như tham dự vào giám sát việc thực thi luật pháp; vào giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; vào giám sát việc dùng đất.

Cộng đồng làng xã tồn tại và vượt quan khó khăn cũng vì mối kết liên ưng chuẩn đất đai làng xã. Phần đất còn lại theo quy hoạch chưa xây dựng nhà ở hoặc đã xây dựng nhà ở được đem đấu giá để lấy tiền phát triển không gian đô thị. Cơ chế đất dùng chung làng xã cũng là một đặc điểm dị biệt của vấn đề đất đai trong lịch sử của nước ta. Trường hợp người mất đất không muốn mất đất vì đất đang là sinh kế nuôi sống họ thì chẳng thể áp dụng cơ chế bồi thường bằng tiền một lần, kể cả tiền nhiều cũng không hợp lý.

Có lẽ các quy định trong dự thảo luật cũng mới chỉ dừng ở các nguyên tắc chung. Ví dụ Thanh Văn này là một minh chứng về tính đồng thuận có thể đạt được trên thực tại nếu chính quyền, người cán bộ đích thực là của dân, do dân và vì dân.

Kết lại là dự thảo Luật Đất đai sửa đổi phiên bản gần đây nhất vẫn giữ nguyên quy định của luật pháp hiện hành với tinh thần chính là luật hóa Nghị định số 69/2009/NĐ-CP.

Nhóm. Rất tiếc, dự thảo Luật Đất đai sửa đổi không có cơ chế Nhà nước giao đất cho cộng đồng làng xã để dùng chung. V. Người dân cần tới sự thực lòng cần dân của chính quyền, cần như hồi chiến tranh cần tới sự tham dự của người dân. Nếu ai chưa tin điều này thì hãy xuống xã Thanh Văn, huyện Quốc Oai để xem chính quyền xã làm gì để chính quyền với dân luôn là một, trong tất tật mọi việc và trong cả vấn đề đất đai.

Vai trò của người dân như thế nào trong việc chia sẻ bổn phận và lợi quyền với Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng đất đai? Vai trò đó đã được phát huy như thế nào, thưa ông  ? Vai trò của người dân cần được xác định cụ thể trong quá trình hình thành các quyết định của Nhà nước về đất đai như quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; về phương án bồi hoàn, hỗ trợ, tái định cư; về cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; về công nhận quyền sử dụng đất khi cấp giấy chứng thực lần đầu, v.

GS Đặng Hùng Võ:    Có thể nói đất đai đang là vấn đề nổi cộm nhất trong những vấn đề tầng lớp hiện. Nhà đầu tư lấy đất sản xuất nông nghiệp có khả năng nông nghiệp cao thì phải bóc lớp đất mặt đổ sang chỗ đất có ít khả năng nông nghiệp để bình phục tài nguyên.

Người nông dân mất đất dẫn tới mất sinh kế, gián đoạn thu nhập; vậy thì phải là đền bù cho việc mất sinh kế chứ chẳng thể là tương trợ mất sinh kế trong một thời gian nhất thiết. Đương nhiên trong vấn đề đất đai thì điều này cần đến như một đòi hỏi của điều kiện cần và đủ. Trong chiến tranh, hình thái chiến tranh chiến tranh nhân dân là một thành tựu của Việt Nam, đã dẫn giang sơn bước qua những giai đoạn khó khăn nhất.

Tất nhiên, luật pháp vẫn nói rằng bồi hoàn bằng đất cùng loại, nếu không có đất cùng loại thì bồi hoàn bằng tiền với giá đất sát giá thị trường. Người dân vẫn có ý niệm trong đầu là chính quyền hay "thân" với các nhà đầu tư kinh tế hơn với dân.

Sự đồng thuận của dân và chính quyền có thẩm quyền quyết định về đất đai là một nhân tố mang tính nguyên lý để tạo nên vững bền xã hội. Nhìn lại hết thảy, có thể nhận ra tính hợp lý khi quy định: quốc gia có nghĩa vụ bồi hoàn phần đất đai với tư cách là tài sản; còn nhà đầu tư sẽ sử dụng đất có nghĩa vụ đền bù cho đất đai với nhân cách là tài nguyên và tư liệu sản xuất.

Người mất đất được coi như đã góp đất cũ khi chưa có hạ tầng và được nhận một suất đất mới khi đã có hạ tầng với giá trị tương đương theo quy hoạch chi tiết được cộng đồng đồng thuận.

Hẳn nhiên, thực tại cho thấy cũng có những trường hợp người này hay người kia lợi dụng, muốn nhiều hơn cho mình, nhưng ý kiến của phần đông trong cộng đồng khi đủ thông báo luôn đạt được sự công bằng, khách quan và tinh khiết. Rất tiếc, có các nghiên cứu này chưa đủ sức mạnh làm động tâm các nhà quản lý chịu bổn phận hoạch định chính sách. Theo Luật Đất đai 1993, nghĩa vụ này thuộc nhà đầu tư.

Hai là cơ chế "góp đất và điều chỉnh lại đất đai" được sử dụng trong phát triển hạ tầng liên lạc, chỉnh trang và phát triển thị thành. Theo Luật Đất đai 2003, bổn phận này thuộc Nhà nước; nhà đầu tư có bổn phận xuất tiền thực hiện và được trừ vào tiền dùng đất, tiền thuê đất phải nộp cho quốc gia.

Tiết kiện nhất là lấy đất hoang hóa để thực hiện các dự án đầu tư. Cơ chế này thường vận dụng cho các dự án khai phá tài nguyên tự nhiên có tác động lớn tới cộng đồng địa phương như thủy điện, khai khoáng, tụ hội đất đai sản xuất nông nghiệp, v. Cách thức bồi hoàn bằng tiền một lần chỉ đúng khi người mất đất muốn chuyển nhượng đất đang sử dụng.

Ngoài chuyện giá chưa phù hợp thị trường, còn nhiều điều bất hợp lý. Người mất đất cần được bảo đảm sinh kế sau khi mất đất. Như vậy, nhà đầu tư mới chịu Khó cần nhắc lấy đất nào cho tùng tiệm.

Hoàng Hường    (thực hành). Từ đó, mọi người gần như thiếu cảm tình với thuật ngữ hợp tác xã nông nghiệp, dù rằng Nhà nước vẫn có đường lối phát triển mô hình hợp tác xã.

Sức mạnh của mô hình cộng tác xã là rất lớn nếu đó là tình nguyện của dân cày, hiệp tác xã phải làm được những điều mà cá thể không làm được để mang lại ích bình đẳng cho từng cá thể. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi có nhiều ý tưởng về cơ chế tạo đồng thuận giữa chính quyền và người dân. Các làm này chỉ đúng với đất ở vì đó là tài sản thực thụ. Ảnh Vnexpress  chẳng thể đưa tiền là xong   Những vấn đề phức tạp xảy ra nhiều ở việc thu hồi đất của người dân, theo ông cơ chế thu hồi và bồi thường cho người dân hiện giờ đã thỏa đáng chưa? Công tác định giá, áp giá đền bù hiện nay có cần được điều chỉnh? Làm thế nào để cả ba bên: quốc gia, doanh nghiệp và người dân tìm được sự đồng thuận  ?  GS Đặng Hùng Võ:   vững chắc, cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hành đền bù, tương trợ, tái định cư hiện nay chưa thỏa đáng.

Chúng ta cần nhận thức rõ là sự thất bại trước đây của mô hình cộng tác xã là do mô hình bậc cao mang tính duy ý chí, không hợp với trình độ quản lý nên gây ra thụ động.

Nhà đầu tư lấy đất rừng phải trồng rừng mới ở chỗ khác và trông nom cho tới khi bằng với chất lượng rừng bị mất. Đất làng xã cũng là một cơ chế rất tiện lợi để giải quyết tình trạng nông dân không có đất.

V. Đất đai với nhân cách là tư liệu sinh sản bị mất thì ngoài giá trị tài sản, người lấy đất phải đền bù mọi thiệt hại về sản xuất bị mất cho tới khi người mất đất chuyển được sang nghề mới.

Về dùng, người dân với nhân cách cộng đồng dùng đất là một cơ chế truyền thống về đất làng xã ở nước ta. Thứ hai,  chính sách hiện hành quy về cơ chế đền bù với tư cách đất đai là tài sản và quy tài sản đó thành tiền.

Mời độc giả tham gia ý kiến sửa luật đất đai: TẠI ĐÂY Đất đai là yếu tố người dân cần đến nhiều nhất để lo ăn, lo chỗ ở.

Cuộc khủng hoảng ở Tiên Lãng là một sự kiện điển hình nhất của xung đột từ thu hồi đất đai. Nhìn toàn diện vấn đề, cũng có nhiều cách để vừa đầu tư phát triển và vừa đồng thuận được với dân.

Trên thế giới, người ta đã đưa ra 2 cơ chế được hồ hết các nước ứng dụng.

Có nhẽ cũng một phần vì ưu đãi đầu tư phát triển nhưng cũng có nơi tệ hơn vì lợi. Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Thứ nhất,  khái niệm bồi thường và tương trợ còn chưa phân minh. Cách thức chính là ích từ đầu tư phát triển phải được chia sẻ minh bạch, hợp lý và công bằng.

Bằng tiền và không bằng tiền cho địa phương, cộng đồng dân cư nơi mất đất và người đã mất đất cho dự án. Làm thế nào để chính quyền và người dân tìm được sự đồng thuận? Những thay đổi căn bản của Dự thảo có giải quyết được các tình trạng nêu trên  ? Sự đồng thuận giữa chính quyền và người dân là một yếu tố cần đạt được không chỉ trong vấn đề đất đai mà trong mọi quá trình phát triển giang sơn.

Trong lịch sử, hiệp tác xã bậc cao đã bị thất bại và Nhà nước đã giao đất cho hộ gia đình.

Cách làm như vậy là không đổi mới và chắc chưa đáp ứng được kỳ vọng của mọi người.

Đất đai với tư cách là tài nguyên bị mất thì cách bồi hoàn phải khác. Khi đã bồi thường theo giá đất thị trường thì làm gì còn tương trợ giá đất nữa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét